NGHE NHẠC

Trường học thân thiện

CON CUÔNG KÍNH CHÀO

VIOLET CON CUÔNG

BÁC HỒ KÍNH YÊU

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Đàm Đại)

    LIÊN KẾT CÁC WEBSILE

    SỞ GD VÀ ĐT NGHỆ AN

    TIẾP SỨC MÙA THI



    XEM ĐIỂM THI ĐH - CĐ

    GIẢI TOÁN QUA MẠNG

    THI TIẾNG ANH QUA MẠNG

    LIÊN KẾT CÁC WEBSILE

    LIÊN KẾT CÁC WEB HAY

    THÀNH VIÊN VIOLET

    Ảnh ngẫu nhiên

    IMG_20161120_081501.jpg Dung_Thay_Doi_The_Gioi___Qua_Tang_Cuoc_Song__YouTube.flv Chuyen_co_tich_ve_mot_duong_ong_dan_nuoc__YouTube1.flv Cai_Ken_Buom___Qua_Tang_Cuoc_Song__YouTube.flv Suc_manh_niem_tinqua_tang_cuoc_songflv__YouTube.flv 03_Hanh_khuc_Thanh_nien_NA__Tinh_doan_Nghe_An.mp3 WP_20140324_004.jpg 20130528_082101.jpg 20121117_145434.jpg IMG_04092.jpg IMAG0552.jpg IMAG0541.jpg IMAG0542.jpg IMAG0475.jpg IMAG0465.jpg IMAG0391.jpg IMAG0298.jpg IMAG0160.jpg 996001_165848963613025_913529483_n.jpg

    CON CUÔNG QUÊ TÔI

    gif maker
    CON CUÔNG SƠN THỦY HỮU TÌNH

    DỰ BÁO THỜI TIẾT

    GDTS

    Nối vòng tay lớn

    BÁO MỚI

    Chào mừng quý vị đến với website của Phòng GD - ĐT Con Cuông

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. Thân Ái: Đàm Đại
    Gốc > CON CUÔNG QUÊ TÔI > LỊCH SỬ >

    Văn hoá lịch sử Huyện Con Cuông

     
     
    Theo các nhà khảo cổ học, sau khi nghiên cứu 1096 mảnh tước và một số vỏ ốc tại Hang ốc (Thẳm hoi) ở xã Yên khê , được đo bằng phương pháp đồng vị phóng xạ các bon C14 cho biết : Con người đã có mặt trên đất rừng Con Cuông hơn 1 vạn năm trước đây, thuộc thời kỳ văn hoá Hoà Bình. Như vậy, Con Cuông ở vào một trong những khu vực loài người có mặt rất sớm.


    1- Sự hình thành dân cư và bản sắc văn hóa dân tộc trên đất huyện Con Cuông


    Theo các nhà khảo cổ học, sau khi nghiên cứu 1096 mảnh tước và một số vỏ ốc tại Hang ốc (Thẳm hoi) ở xã Yên khê , được đo bằng phương pháp đồng vị phóng xạ các bon C14 cho biết : Con người đã có mặt trên đất rừng Con Cuông hơn 1 vạn năm trước đây, thuộc thời kỳ văn hoá Hoà Bình. Như vậy, Con Cuông ở vào một trong những khu vực loài người có mặt rất sớm. Thủa hồng hong từng chứng kiến con người đã bước những bước đi chập chững, vin cành, hái quả trên mảnh đất này.


    Cùng cải tạo thiên nhiên và tạo lập  cuộc sống trên mảnh đất Con Cuông có các dân tộc anh em:Thái, Đan lai (Thổ) Kinh và một số ít người Hoa, Nùng.


    Sách "các dân tộc" ít người ở Việt Nam của Viện dân tộc học xuất bản năm 1978 và sách : " Sổ tay về các dân tộc Việt nam " xuất bản năm 1999 đều cho rằng tổ tiên của người Thái gốc xa xưa ở Trung quốc vào Việt Nam cách đây trên giới 1000 năm đầu tiên họ cư trú ở Tây bắc , đa số ở lại đó một số tiếp tục di cư qua Lào rồi vào miền tây Nghệ An, một nhóm di cư thẳng vào Hoà Bình ,Thanh Hoá rồi đến miền Tây Nghệ An . Sau cuộc thiên di dài dằng dặc, trong cuộc thiên di ấy một số gia đình thuộc nhóm Thái hàng Tổng, Tày Mười, Tày Thanh (Man Thanh) đã định cư ở Con Cuông đầu thế kỷ XV (trang 69 địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh ) ngôn ngữ hai nhóm này có khác nhau đôi chút về ngự điệu và một số từ không đáng kể, nhìn chung là thống nhất không có rào cản lớn về mặt ngôn ngữ mang theo tất cả những nét văn hoá đã hình thành từ xa xưa, được bổ sung hấp thụ những cái mới trên con đường lập bản xây mường. Họ biết làm nghề rừng, chăn nuôi dệt thổ cẩm, trồng lúa nước. Đa số người Thái ở vùng núi thấp, thường ở dọc ven sông suối và thung lũng . Người Thổ (Đan lai Lý Hà ): Nhà nước có chủ trương di dân lên miền núi xây dựng nông, lâm trường quốc doanh và các khu kinh tế mới. Họ sống tập trung chủ yếu ở Thị trấn và các thị tứ, một bộ phận sống đan xen với đồng bào dân tộc Thái.


    Người Hoa có 21 hộ, 76 khẩu, sống tập trung ở Thị trấn Con Cuông. Chủ yếu họ buôn bán làm kế sinh nhai.


    Người dân tộc Nùng từ tỉnh Cao bằng vào định cư ở xã Yên khê từ 1995 gồm 28 hộ, 129 khẩu. Sinh sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi.


    Văn hoá dân gian của các dân tộc ở Con Cuông là những di sản quý giá, kết tinh qua bao đời, thể hiện sức sáng tạo của cha ông. Nó phản ánh cuộc sống một cách chân thực, trong sáng, tế nhị. Văn hoá dân gian gồm có hai bộ phận cấu thành là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể.


     a  -  Văn hoá vật thể:


    Với trí tưởng tượng phong phú, bàn tay khéo léo, cần mẫn và những bí quyết tạo màu tự nhiên, người dân bản địa đã sáng tạo dệt nên những mặt hàng thổ cẩm đậm đà bản sắc dân tộc. Những sản phẩm thêu, dệt như khăn, áo, gối, chăn, màn, chân váy với hoa văn đường nét kỷ hà màu sắc sặc sỡ, gam màu hài hoà, nghệ thuật tinh tế sinh động, sống mãi với thời gian.                                                     

    Các nghệ nhân đã chế tác được nhiều nhạc cụ độc đáo. Bộ dây có đàn tập tinh, xì xò; bộ gõ có cồng, chiêng, trống, mõ khắc luống; bộ hơi có các loại sáo pi thiu (sáo dọc), khèn lá, khèn bè, khèn môi. Những nhạc cụ này khi tấu lên tạo ra những âm hưởng vừa hoang sơ thơ mộng, vừa trầm hùng thiết tha, vừa sôi động dịu dàng, gợi lên trong tâm thức người nghe những âm thanh của nắng núi, mưa ngàn, tiếng chim kêu vượn hót, tiếng suối ngàn ngân nga, tiếng thác đổ ào ào, tiếng chày giã gạo, tiếng xa quay thấp thoáng thoi đưa; những âm thanh làm say đắm lòng người.


    Về văn hoá ẩm thực: Đồng bào chế biến được nhiều món ăn, uống mang đậm hương vị tự nhiên, có tác dụng bồi dưỡng sức khoẻ cho con người như: Cơm lam, lạp pa, thịt chua, canh măng đắng, chúp (nộm hông), canh bon, canh ốt (gà bồi), rượu siêu, rượu trấu, chè đâm.

                                                 

    Đóng góp thêm phong phú kho tàng văn hoá  vật thể còn tính đến rất nhiều đền, chùa, miếu mạo, nhà thờ như: Đền thờ Đức Ông, Đức Bà, Tam Toà (thờ Lý Nhật Quang) ở Bồng khê ,Thị trấn; đền Cửa Luỹ thờ Bạch Y Công chúa ở Yên Khê; đền thờ các tù trưởng người Thái có công giúp Lê Lợi đánh quân Minh ở Môn sơn, Lục dạ; đền thờ vua Trần Minh Tông ở Chi Khê; đền Kẻ Trịnh ...[1] Nói chung, hầu hết các xã, các bản đều có đền thờ, nhà thờ nhưng đáng tiếc trải qua những tháng năm loạn lạc, những biến động thăng trầm của lịch sử, đến nay các đền thờ, miếu mạo và một số hang động đậm đà truyền thuyết, huyền thoại đã bị tàn phá hầu hết,  chỉ lại một số ít phế tích.


    b - Văn hoá phi vật thể


    Có nhiều, làn điệu dân ca như khắp, xến, nhuôn, xuối, lăm; tục ngữ, ca dao, truyện, thơ, truyện cổ, câu đối phản ánh sinh động cuộc sống của nhân dân, phù hợp với tình cảm, tâm hồn của đồng bào miền núi, đậm tính nhân văn. Bên cạnh ca hát, múa là một bộ môn nghệ thuật được nhân dân rất ưa thích, như múa trống chiêng, múa xăng khàn, thường tổ chức ba ngày, ba đêm vào dịp cuối năm.

    Ca dao Thái phong phú, đa dạng và rất đặc biệt, vừa tế nhị, tinh tế về nhận thức xã hội, tự nhiên vừa thể hiện trí tưởng tượng phong phú của con người. Với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị ca dao Thái có sự kết hợp giữa lãng mạn trữ tình và hiện thực đời sống. Nó như dòng nước tươi mát ngọt ngào, tạo tình cảm xao xuyến, bâng khuâng, dễ đi vào lòng người, trong đó "Có tiếng cười mà cũng có tiếng khóc, có đau khổ, hạnh phúc, chia ly, gặp gỡ, có đắn đo suy nghĩ, có cá nhân - gia đình, xã hội, lịch sử, dân tộc, có thiên nhiên cảnh vật" (Ninh Viết Giao)


    Ví dụ :               "Hoong bọ dụ năm cồn ngoạ

                              Vạ bọ dụ năm cồn lắc."

      Hoặc     "Cồn lắc bọ mi vạ

                              Côn ngoạ bọ mi khoong"

    Nghĩa là:

          (Của không ở với người dại

          Vạ không ở với người khôn

          Người khôn không có vạ

          Người dại không có của)


    Ngoài ra còn có những truyền thuyết, những áng văn học dân gian hấp dẫn, đậm đà tính nhân văn như: Tập tục "cù mun pi mớ" của người Thái, bài cúng tết của người Đan lai, đều viết bằng văn vần. Truyền thuyết, chuyện dân gian viết bằng văn xuôi như chuyện anh Cấp, chị Kèo, Thắm Nàng Màn, Tạ Bó, Mường Quạ, Lèn Chùa, Eo Vực Bồng, Cửa Rõ... Những tác phẩm trên đã được giới thiệu đăng trên tạp chí, sách, báo của trung ương, địa phương in ấn, xuất bản, ghi nhận đưa vào kho tàng văn học dân gian Việt Nam (Xem phụ lục).


    Như vậy, người chủ tự nhiên, xã hội muôn thủa của  Con Cuông là người dân tộc Việt nam. Nhân dân các dân tộc Con Cuông tuy trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội có khác nhau. Nhưng từ ngàn xưa đã biết  đùm bọc, đồng cam cộng khổ, chung lưng, đấu cật xây dựng  và gìn giữ quê cha đất tổ. Đúng như truyền thống:


    "Bầu ơi thương lấy bí cùng .

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn "


    Đất rừng Con Cuông là đất rừng của non sông Việt Nam, con người Con Cuông là con cháu của Vua Hùng những ngày đầu dựng nước mang Quốc hiệu Văn Lang (287-258TCN), là con cháu của Bác Hồ  mang quốc hiệu Việt nam dân chủ cộng hoà (1945), cộng hoà XHCN Việt nam (1976).

      

    2.  Khái quát truyền thống lịch sử


    a -Truyền thống chống thiên tai


    Thiên nhiên ở đây hào phóng nhưng cũng rất khắc nghiệt trong cuộc khai sơn phá thạch, dựng bản lập mường khai khẩn đất hoang cha ông đã phải gồng mình lên chống chọi với khí hậu hà khắc, rừng thiêng nước độc (thuỷ, hoả, đạo tặc) mới tạo dựng nên những cánh đồng ruộng nước , trù phú như đồng Mường quạ "Cơm Mường quạ cá sông Giăng " phong cảnh sơn thuỷ hữu tình.


    "Anh đi khắp núi, khắp ngàn .

    Không đâu đẹp bằng Đá Bàn sông Giăng

    Anh từng thức suốt đêm trăng

    Không đâu đẹp bằng sông Giăng Đá Bàn "

     

    (Đá Bàn: Tên gọi bản làng Môn sơn)


    Theo truyền thuyết dân gian kể lại, vùng lúa Môn Sơn, Lục Dạ do công của ông Hầu Bông ( Lang Văn Ut ) cùng dân bản địa ở đây khai phá. Ông kêu gọi dân bản ở Phủ Quỳ sang giúp sức đào mương dài 3 km từ bản Mét (Lục Dạ) xuống bản Xiềng (Môn Sơn ). Lòng mương rộng 5 m, sâu 4 m (gọi là Khe Ló ). Hiện nay dân bản ở đây còn sử dụng.


    Những bãi đất màu mỡ phì nhiêu bên bờ sông Lam, những thửa ruộng bậc thang, nương rẫy trù phú và nhiều công trình thuỷ lợi nhỏ. Hầu hết bản làng nào cũng dựng lên những cọn nước (guồng nước) trên các dòng suối để lấy nước sản xuất sinh hoạt. Đó cũng là một trong những hình ảnh đặc trưng của  miền núi, làm tăng thêm duyên cách, níu chặt con người ở lại đây; bằng bàn tay khối óc, trái tim miệt mài, nhẫn nại, kiên trì lao động dựng xây quê hương ngày càng khởi sắc thay da đổi thịt.


    b - Truyền thống chống xâm lược và các thế lực đè nén áp bức khác


    Năm 1041, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ là một danh tướng, danh thần của Vương Triều Lý, với sự thông minh, mẫn tiệp, văn võ toàn tài đã được nhà vua cử làm Tri châu Nghệ An. Bằng cả tấm lòng đầy nhiệt huyết và quyết tâm của mình, trong những năm tháng gian khổ đầy cam go và thử thách, ông đã đề ra những biện pháp hữu hiệu để giữ vững bờ cõi, đưa dân  phiêu  tán và chiến tù khai khẩn đất hoang, củng cố xây dựng miền tây Nghệ An  từ một vùng biên viễn xa xôi, hẻo lánh, nơi địa đầu cực nam của nước Đại Việt trở thành một vùng đất rộng, người đông; một căn cứ địa phên dậu vững chắc của nước nhà .Sau 16 năm làm tri châu Nghệ An, Lý Nhật Quang đã mở mang được 5 châu, 22 trại, 56 sách. Trong đó có Cự Đồn tên khai sinh đầu tiên của Con Cuông. Để tưởng nhớ công ơn Ông, nhân dân vùng này đã lập đền thờ Tam Toà tại Thành Nam (Vị trí của Đền thuộc khối 6 - Thị trấn Con Cuông hiện nay). Kỷ niệm ngày mất của Lý Nhật Quang (16,17 tháng Chạp), hàng năm nhân dân tổ chức tụ hội về đây thắp hương để tôn vinh và thể hiện lòng nhớ ơn đến vị thành hoàng đã khai sơn phá thạch, khai khẩn ra mảnh đất này. (Đền thờ  do loạn lạc, chiến tranh, bị phá huỷ nay chỉ còn lại phế tích). Hiện nay đến Đền chúng ta vẫn còn thấy các câu đối viết trên cột quyết. Có câu như:


    Kiếm chiến sương sa địa võng hùng.

    Kim môn lẫm liệt tựa như sinh.

    Hay:

    Thành lập bài truyền di địa chúa.

    Trụ cao phảng phất trấn Thiên Nam 


    Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" của Ngô Sỹ Liên, thế kỷ XIII Con Cuông có tên gọi là Nam Nhung, Kiêm Châu sau đổi thành Mật Châu. Giai đoạn lịch sử này,  phiá Tây Nghệ An thường bị  các thế lực bên ngoài đến quấy nhiễu,  triều đình cử Nguyễn Trung Ngạn tể tướng văn võ song toàn vào làm đốc phủ sứ để toan lo việc dẹp loạn. Năm 1335 vua Trần Hiến Tông, Thượng Hoàng Trần Minh Tông đích thân vào đây đốc chiến. Đại bản doanh đặt tại núi Cự Đồn - Mật Châu (nay là xã Chi Khê, Con Cuông). Kẻ thù thấy nhà Trần xuất binh hùng, tướng mạnh, trận đầu đã làm cho tên nghịch Bổng "Thất điên bát đảo" vội hồi quân theo chiều gió, chạy trốn không dám ngoái cổ lại. Với chiến công này,Thượng Hoàng Trần Minh Tông xuống chiếu lui quân, rồi sai Nguyễn Trung Ngạn ghi lại chiến công rạng rỡ trên vòm núi đá, gọi là  "Ma nhai kỷ công văn" vào tháng 12 nhuận, niên hiệu Khai Hựu, năm thứ 7 Ât Hợi.[2] (Văn bia này hiện còn nguyên dấu tích, thuộc địa phận Thôn Tiến Thành, xã Chi Khê, huyện Con Cuông).


    Năm 1406 Việt Nam bị nhà Minh (Trung Quốc) xâm chiếm. Tháng 4 .1407, nhà Minh đổi nước ta thành quận Giao chỉ và Mật Châu cũng bị đổi thành Trà Lung, sau đó gọi là Trà Long hoặc Trà Lân. Tại phủ Trà Lân nhà Minh cho xây dựng một hệ thống thành luỹ, đồn ải kiên cố,  nhằm trấn giữ toàn bộ miền tây Nghệ An  và con đường thượng đạo từ bắc vào nam. Thành chính nằm ở bờ bắc sông Lam do ngụy quân Cầm Bành trấn giữ với hơn 1000 quân tinh nhuệ, ngoài ra còn có nhiều  thành luỹ nhỏ khác, làm nhiệm vụ bảo vệ từ xa cho thành Trà Lân.


    Sau một thời gian dấy binh khởi nghĩa chống quân xâm lược Minh, Lê Lợi và bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định tiến quân vào Nghệ An, nơi " đất rộng, người đông" để " tính kế lâu dài". Tháng 10 năm 1421, nghĩa quân Lê Lợi bắt đầu bao vây, tấn công thành Trà Lân. Đồng bào các dân tộc đã hăng hái tòng quân, ủng hộ voi, ngựa, vũ khí, lương thảo, hợp lực cùng nghĩa quân đánh giặc. Chỉ riêng ở Trà Lân, hơn 5000 thanh niên đã được tuyển lựa vào nghĩa quân.  Với chiến thuật tấn công quân sự với bao vây dụ hàng, trong  hơn hai tháng quân địch sa vào tình thế ngày càng khốn quẫn. Cầm Bành tuyệt vọng phải mở cửa thành "Sụp lạy mà dâng đất ".  Chiến thắng vang dội này đã tạo thế và lực, mở đường cho  cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh đi đến thắng lợi. Ngày đất nước khải hoàn, tù trưởng Trương Hán (tù trưởng người Thái có công kêu gọi dân bản  đem voi, ngựa, lương thảo góp sức cùng nghĩa quân bao vây thành giặc) được Lê Lợi phong làm Khả lam Quốc công. Đến nay vẫn còn một số đền thờ tại các bản làng nhằm ghi nhớ và tôn vinh những người có công lao lớn trong quá trình bao vây thành Trà Lân,  như ở bản Xiềng Pún xã Môn sơn và ở bản Phát, xã Lục Dạ[3]


    Năm 1885  vua yêu nước Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương đã thổi bùng lên ngọn lửa kháng Pháp mạnh mẽ từ miền xuôi lên miền núi, từ bắc đến nam. Vùng núi Con Cuông, Anh sơn thuộc khu vực hoạt động của nghĩa quân Lê Doãn Nhã. Hưởng ứng phong trào đấu tranh chống pháp, Lang Văn Út (Hầu Bông) người dân tộc Thái ở Môn sơn cùng với cháu là Quản Thế đã hợp tác cùng Lê Doãn Nhã khống chế tuyến đường 7. Có sự hợp tác của Lang Văn Ut, nghĩa quân Lê Doãn Nhã đã tấn công tiêu diệt đồn binh Pháp ở  Dừa (Anh sơn). Với chiến thuật đánh hoả công, quân địch ở trong đồn bị tiêu diệt nhanh gọn. Chiến thắng đồn Dừa gây một tiếng vang trong phong trào chống Pháp ở miền núi Nghệ An. Cuối năm 1887, thực dân Pháp bắt được thủ lĩnh Nguyễn Xuân Ôn, chiếm được tuyến đường quan trọng này. Lang Văn Út cùng một số nghĩa quân (người Con Cuông) tìm đường vào rừng núi Hương Sơn để gia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng. Trên đường đi, Lang Văn Ut bị bắt. Tuy bị địch khủng bố nhưng đồng bào các dân tộc Con Cuông vẫn bí mật giúp đỡ nghĩa quân của Nguyễn Mậu (Đỗ Mẫu), để đến năm 1889 trở thành "anh thứ" trong 22 anh thứ của Phan Đình Phùng.

    Đặc biệt tháng 9-1887, sau khi thất bại tại cuộc khởi nghĩa Ba Đình, thủ lĩnh Đinh Công Tráng đã vào miền Tây Nghệ an vận động bà con dân tộc thiểu số nổi dậy chống Pháp, ông đã được sự hưởng ứng, ủng hộ và che chở của nhân dân Con Cuông. Trong một trận đánh, ông bị Pháp bao vây và bắn chết đêm 5-10-1887 tại xã Chính yên - Cồn Cuông.

     Khi giặc Pháp mới đặt chân đến  xứ Nghệ, một viên đội đồn tuần thuế lâm sản Tại Khe Bon (Yên Khê, Con Cuông) đã biến đồn của mình thành một trong những căn cứ chống Pháp. Quân cần Vương ở đây do Phan Cảnh Thông anh ruột của Phan Đình Phùng chỉ huy.

    Với những tài liệu biết được còn lưu giữ đến ngày nay về đường quan lại ở huyện Tương Dương và phủ Tương Dương qua các đời vua Thành Thái (1889-1907) Khải Định (1916- 1925), Bảo Đại (1926- 1945) thì những người anh em họ Lang ở Tổng Lịch Cốc (nay là xã Đôn Phục)  nối nhau làm tri phủ, tri huyện Tương Dương.


    Trong đó có ông Lang Văn Minh làm tri phủ Tương Dương được vua Thành Thái (Một ông vua rất yêu nước của Triều Nguyễn ) sắc phong bát phẩm  (1896), Thất phẩm (1901 ), sắc khen là người làm tri phủ có tài, có công (1907 ). Đặc biệt ngày 13-1-1941 Tri phủ Lang Vi Năng được vua nước Lào - Lạn Xạng (Đất triệu voi) có sắc bằng khen tặng vì đã có công củng cố xây dựng tình đoàn kết Việt - Lào ở vùng biên giới hai nước. Ông Lang Vi Tào  làm tri huyện Tương Dương đến tháng.


    1945. Những năm sau cách mạng tháng Tám, ông được Đảng và chính quyền giao làm Chủ tịch  Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện từ  năm 1947 đến 1953.

    SƯU TẦM


    Nhắn tin cho tác giả
    Đàm Đại @ 20:47 30/10/2012
    Số lượt xem: 3360
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến